PRRS transmision

Sự truyền lây thường xảy ra khi có sự tiếp xúc giữa các heo hay tiếp xúc với các dịch tiết từ heo nhiễm bệnh (tinh dịch, máu chứa virus, kim tiêm bị nhiễm, quần áo và ủng)

Sự truyền lây
Đặc điểm quan trọng của virus PRRS là khả năng truyền lây từ các heo nhiễm có thể kéo dài đến 100 ngày. Heo nhiễm bệnh có hoặc không có triệu chứng đều là thú mang trùng và bài thải virus. Virus PRRS có khả năng lây nhiễm rất cao. Liều gây nhiễm có thể chỉ là 10 phần tử virus.
 
NHỮNG ĐƯỜNG TRUYỀN LÂY CỦA VIRUS PRRS:
·       Phân
·       Tinh dịch
·       Nước tiểu
·       Sữa
·       Dịch mũi
 
Heo nái mang thai nhiễm virus PRRS có thể sinh ra heo con cũng nhiễm virus. Virus PRRS có thể truyền từ heo con hoặc heo nái nhiễm sang các heo con khác. Chu kỳ bài thải và lây nhiễm virus có thể vẫn tiếp tục ở giai đoạn cai sữa trong trường hợp đàn nái đang nhiễm và bài thải.
 
Những heo lớn hơn bị nhiễm khi được giữ lại hoặc được ghép bầy ở nhà đẻ thường là nguồn lây virus cho những heo nhỏ hơn. Tương tự như vậy, những heo lớn và dịch tiết của chúng có thể là nguồn lây nhiễm cho những heo nhỏ hơn trong những khu nuôi có chu chuyển đàn liên tục, các khu nuôi nhốt chung heo nhiều độ tuổi hay những khu nuôi không áp dụng các biện pháp an toàn sinh học.
 
Heo nọc có khả năng bài thải virus qua tinh dịch. Cách bài thải virus qua tinh dịch có thể khác nhau và theo cách thức không liên tục giữa các heo nọc với nhau. Nhiều nghiên cứu nói rằng quá trình bài thải có thể kéo dài từ 21 đến 35 ngày. Việc heo nái nhiễm virus từ tinh dịch có thể diễn ra trong suốt quá trình phối giống tự nhiên hoặc nhân tạo.
 
Sự ổn định 

Virus PRRS có vỏ lipid nên khả năng tồn tại ngoài tự nhiên của nó bị ảnh hưởng bởi nhiệt độ, pH và chất tẩy rửa. Virus PRRS không bền với nhiệt nhưng khá ổn định với nhiệt độ từ 4°C đến 70°C; lớp vỏ lipid dễ bị phá vỡ bởi các dung môi như chloroform và ête. Virus ổn định trong môi trường pH từ 6.5 - 7.5, nhưng khi độ pH ở dưới hoặc trên khoảng này thì khả năng lây nhiễm của virus sẽ bị giảm. 

Động vật mang trùng.
Virus PRRS không phải là 1 virus “bền”.  Tuy nhiên, virus PRRS có khả năng gây nhiễm mãn tính và “dai dẳng” trên heo (tạo ra các heo mang trùng). Sau đó, chúng tiếp tục nhân lên trong vòng nhiều tháng sau đó. Virus có thể được phát hiện khoảng 85% trên heo 100 ngày sau khi nhiễm. Không có nhiều số liệu về thời gian sau 100 ngày nhưng các nhà nghiên cứu đã phân lập được virus từ heo vào 132 ngày sau khi nhiễm (Đại học Nam Dakota), 150 ngày sau nhiễm - phát hiện 2 trên 5 heo (Đại học Nebraska-Lincoln), và 157 ngày sau nhiễm - phát hiện 1 trên 4 heo (đại học bang Iowa). Cơ quan đầu tiên có sự tồn tại virus PRRS dai dẳng là hạch lympho và hạch amidan. Virus được phân lập từ mẫu hạch amidan trên heo vào 157 ngày sau nhiễm và được phát hiện bằng PCR trên hạch amidan vào 255 ngày sau nhiễm. Như vậy, heo không có vẻ là sẽ nhiễm virus suốt đời và hầu hết heo đều được cho rằng cuối cùng sẽ sạch virus.
Sự tồn tại dai dẳng là đặc điểm dịch tễ học có ý nghĩa nhất của virus PRRS. Các heo mang trùng là mối đe dọa thường xuyên của việc truyền lây virus cho các heo nhạy cảm trong đàn và khởi phát cho các trận dịch. Hiện tại chúng ta không có công nghệ để phát hiện heo mang trùng một các chính xác, nhanh và với chí phí thấp. Việc không có virus huyết hay kháng thể trong huyết thanh đều không nói lên tình trạng mang trùng. Thực tế thì một số heo mang trùng có hiệu giá kháng thể trong huyết thanh thấp, ví dụ chỉ số S/P < 0.4 trên những kit ELISA thương mại. Do đó sự tồn tại của heo mang trùng dẫn đến việc phòng và kiểm soát PRRS rất phức tạp.

Sự truyền lây giữa các heo trong đàn
Virus PRRS được tìm thấy trong các loại chất tiết khác nhau như máu, tinh dịch, nước bọt, phân, khí dung, sữa và sữa đầu. Sự bài thải qua phân vẫn là chủ đề tranh cãi lớn khi các nghiên cứu báo cáo là có sự hiện diện của virus PRRS trong phân từ 28 đến 35 ngày sau nhiễm, trong khi nhiều nghiên cứu khác nói rằng không tìm thấy virus trong các mẫu phân.

Sự truyền lây xảy ra chủ yếu khi có sự tiếp xúc giữa các heo hoặc có tiếp xúc với dịch tiết bị nhiễm virus (tinh dịch, máu nhiễm virus, kim tiêm bị nhiễm, quần áo và ủng). Hành vi và mối quan hệ trong đàn đóng vai trò quan trọng trong việc truyền lây trực tiếp, đặc biệt là hành động đánh nhau để thiết lập trật tự trong đàn. Các vết cào và cắn trên vai, cổ và đầu dẫn đến việc tiếp xúc trực tiếp với máu và nước bọt. Nếu có nhiễm virus thì sự tiếp xúc này sẽ dẫn đến nhiễm bệnh. Các hành vi khác như cắn tai và cắn đuôi cũng đóng vai trò trong việc truyền lây bệnh.

Sự truyền lây trong các đàn heo
Virus PRRS có xu hướng tồn tại dai dẳng trong đàn heo một khi bị nhiễm. Sự bài thải ngẫu nhiên của virus PRRS từ những đàn heo thương phẩm đã được báo cáo nhưng khá hiếm thấy. Virus tồn tại dai dẳng nhờ vào sự truyền lây từ những heo mang trùng sang heo âm tính khi nhập đàn. Kháng thể mẹ truyền có thể tạo miễn dịch trên heo mới sinh, nhưng sự bảo hộ này không hoàn toàn và chỉ tồn tại trong thời gian ngắn. Dưới điều kiện mà heo âm tính và heo nhiễm bệnh được trộn lẫn với nhau, ví dụ như khi cai sữa thì đàn có thể bị nhiễm rất nhanh. Trong một số trường hợp, heo có thể không nhiễm bệnh trong một thời gian dài, thậm chí là có báo cáo về sự chuyển đổi huyết thanh học trên heo hậu bị tại các trang trại tự lên hậu bị. Sự hiện diện của các nhóm heo nái hoặc hậu bị nhạy cảm trong những đàn giống bị nhiễm giải thích cho việc xuất hiện các trận dịch PRRS định kỳ.

Một vài ví dụ về các quy trình thực tế có thể làm tăng cường khả năng truyền lây PRRS giữa các đàn heo được trình bày bên dưới.

Nái – Nái Nái - Heo con Heo con - Heo con
Kim tiêm
Heo hậu bị mới
Nguyên liệu làm autovaccine
Máng nước
Nuôi nhốt theo nhóm
Ghép bầy
Heo nái nuôi con giúp
Ghép bầy
Sử dụng dụng cụ
Hộp giữ ấm
Chu chuyển đẻ liên tục

Sự truyền lây giữa các đàn.
Sự truyền lây từ đàn này sang đàn khác vẫn xảy ra nhưng thường khá lâu để có thể xác định được chính xác nguồn truyền lây virus. Nguồn truyền lây đầu tiên từ đàn này sang đàn khác là do nhập heo nhiễm bệnh vào đàn. Trên các trận dịch PRRS xảy ra vào những năm cuối thập niên 1990, Dr. Scott Dee (Đại học Minnesota) đã báo cáo rằng trong 10 trại điều tra thì có 8 trại đã nhập hậu bị từ cùng một nguồn. Ở Pháp, thống kê cho thấy 56% đàn heo bị nhiễm PRRS thông qua việc nhập hậu bị nhiễm vào trại, 20% nhiễm qua tinh dịch, 21% qua dụng cụ bị nhiễm và 3% không xác định được nguồn gốc.
‘Sự truyền lây khu vực’ có nghĩa là sự truyền lây mà không có sự hiện diện rõ ràng của bất kỳ động vật hay con người,và thường có liên quan đến các khu chăn nuôi heo mật độ cao. Tại Pháp, 45% đàn heo nhiễm trong khu vực đều ở trong bán kính 500 m (0,3 dặm) tính từ đàn bị nhiễm và chỉ 2% trong số đó ở bán kính 1 km (0,6 dặm) so với đàn nổ dịch đầu tiên. Cơ chế của sự truyền lây khu vực chưa được xác định rõ ràng. Truyền lây qua không khí được cho là phương tiện truyền lây đầu tiên, nhưng các công trình nghiên cứu về đường truyền lây này vẫn chưa đủ chứng minh. Ruồi và muỗi cũng được chứng minh là có thể truyền lây virus trong một số điều kiện nhất định, nhưng việc côn trùng có thể vận chuyển virus PRRS giữa các đàn heo trong thực tế cần có thêm bằng chứng để khẳng định. Do vậy, tầm quan trọng trong việc kiểm soát PRRS ở quy mô lớn, sự truyền lây khu vực hiện là lĩnh vực hiện đang được tập trung nghiên cứu.

Sự truyền lây bởi những loài vật khác.
Vai trò của những loài vật khác trong dịch tễ học của virus PRRS là không chắc chắn. Các nghiên cứu cho thấy chó, mèo, chồn hôi, gấu trúc, chuột túi, chuột, chuột lang, chim sẻ, chim sáo không nhạy cảm với mầm bệnh. Độ nhạy cảm của các loài gia cầm với virus PRRS hiện vẫn chưa xác định. Virus PRRS có thể phát hiện ở muỗi và ruồi tại trại heo, nhưng vai trò của chúng trong dịch tễ học của virus PRRS vẫn chưa được xác định. Tóm lại, heo nhiễm bệnh và tinh dịch chứa virus là nguồn truyền lây chính của virus PRRS vào đàn.